Quân và dân Tây Ninh trong cao trào cách mạng tiến công, nổi dậy tự lực giải phóng, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam

  1. Tình hình chung

Ngày 31 tháng 3 năm 1975, Hội nghị Bộ Chính trị nhận định, thời cơ giải phóng Sài Gòn- Gia Định đã hoàn toàn chín muồi: “Hiện nay, ta có đầy đủ lực lượng và khả năng để giành thắng lợi hoàn toàn trong một thời gian ngắn hơn dự kiến rất nhiều”. Ngày 14 tháng 4 năm 1975, Bộ Chính trị phê duyệt đề nghị của Bộ Chỉ huy chiến dịch, đặt tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định là chiến dịch Hồ Chí Minh.

Trong bối cảnh nhiệm vụ chung là tranh thủ giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa năm 1975, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền giao nhiệm vụ cụ thể cho Tây Ninh là:

1. Tây Ninh phải tự lực giải phóng địa phương mình;

2. Phải tổ chức đánh địch liên tục để kìm chân sư đoàn 25, diệt liên đoàn biệt kích 81 và cả lực lượng địch ở địa phương không cho chúng rút chạy về Sài Gòn để góp phần tạo điều kiện cho lực lượng chủ lực của ta tấn công giải phóng Sài Gòn.

  1. Diễn biến chính

Chấp hành tinh thần Chỉ thị đó, Tỉnh ủy Tây Ninh đã đề ra nhiệm vụ: huyện tự giải phóng huyện, xã tự giải phóng xã, không để địch ở địa bàn này sang cố thủ ở địa bàn khác, vận động quần chúng đưa con em tham gia lực lượng vũ trang.

Bo doi hanh quan vao chien dich Tay Nguyen

Bộ đội hành quân vào Chiến dịch Tây Nguyên

Với khí thế vô cùng sôi nổi, chỉ trong 20 ngày kể từ ngày 4 đến 24/4/1975, trên 3.000 thanh niên, trung niên tình nguyện lên đường tham gia lực lượng vũ trang. Ta tổ chức được 9 tiểu đoàn mới, trong đó có 2 đại đội là tín đồ Cao Đài. Các tiểu đoàn 20, 22, 24, 26 được tập trung bổ sung cho lực lượng chủ lực tỉnh. 5 tiểu đoàn còn lại của các địa phương gồm: Tân Biên 1 tiểu đoàn, Châu Thành 2 tiểu đoàn, Trảng Bàng 2 tiểu đoàn ở cánh tây và đông. Ngoài ra, thị xã Tân Biên còn thành lập thêm 13 đại đội độc lập. Như vậy, ở thời điểm đó toàn tỉnh có 12 tiểu đoàn. Du kích xã cũng phát triển khá mạnh.

Chấp hành Chỉ thị của Bộ Chỉ huy Miền, đêm 24/4/1975, Tây Ninh dùng 3 tiểu đoàn 14, 18, 20 tổ chức đánh chiếm cầu Bàu Nâu, cắt đứt quốc lộ 22B không cho trung đoàn 49 thuộc sư đoàn bộ binh ngụy tháo chạy về Sài Gòn.

17 giờ ngày 26/4/1975, chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn. Với tinh thần tự lực giải phóng quê hương, quân và dân trong tỉnh đã đồng loạt tiến công và nổi dậy.

Tòa Thánh là địa bàn phức tạp, lực lượng quân sự của địch tập trung đông và bố trí từng khu vực để khống chế quần chúng. Số đông chức sắc trong Hội Thánh lừng chừng, ngán ngại tiếp xúc với cách mạng. Trước tình hình trên, Tỉnh ủy chỉ đạo dùng 2 biện pháp: chính trị và quân sự. Tăng cường cán bộ chính trị để vận động quần chúng đấu tranh, mũi quân sự phải đánh đúng đối tượng.

Đêm 26/4/1975, thực hiện phương án đánh chiếm khu trung tâm Tòa Thánh, ta triển khai địa bàn tấn công cho các tiểu đoàn gồm:

- Tiểu đoàn 20 đánh vào khu vực Long Hải

- Tiểu đoàn 22 chia làm 3 mũi đánh chiếm các khu vực Lò Than, Trường Xuân, Trường Lưu.

- Tiểu đoàn 24 đánh chiếm khu vực Quy Thiện.

Các đội biệt động mật, du kích mật và quần chúng được lệnh chuẩn bị nổi dậy, phối hợp nhịp nhàng với lực lượng vũ trang để giáng đòn quyết định.

Thế trận đã bày sẵn nhưng do hợp đồng chiến đấu chưa chặt nên đêm 26/4/1975 Ban Chỉ huy chiến dịch phải ra lệnh tạm hoãn kế hoạch tấn công, các đơn vị vẫn đứng chân ở vị trí tập kết. Nhưng tiểu đoàn 20 do tiếp nhận lệnh không kịp thời nên vẫn tiến hành tấn công đánh chiếm khu vực Trường Lưu, tiêu diệt tiểu đoàn 351 và 1 đại đội bảo an của địch đóng tại đây và tổ chức bao vây đồn Trường Đức. Cũng trong đêm đó, lực lượng của tiểu đoàn 26 của Tòa Thánh về Thị xã tiến đánh vào khu vực Ninh Thạnh, bắt gọn đội phòng vệ dân sự ở đây và đứng chân ở Suối Bà Phụng, chuẩn bị tấn công vào trung tâm thị xã.

Đêm 27 tháng 4 năm 1975, thực hiện phương án đánh chiếm khu vực trung tâm Tòa Thánh, tiểu đoàn 24 đánh chiếm Qui Thiện và sáng ngày 28/4/1975, các đơn vị đều đồng loạt nổ súng tấn công các mục tiêu. Lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân bao vây, bức rút, bức hàng…giải phóng hành loạt các đồn bốt, dồn địch lùi dần về phía khu vực trung tâm đầu não.

Ở Gò Dầu, ngày 26/4/1975, bộ đội huyện kết hợp với du kích và nhân dân tấn công các đồn trong huyện. Đến ngày 29/4/1975, huyện Gò Dầu cơ bản được giải phóng.

Ở Trảng Bàng, khi lực lượng xe tăng chủ lực của ta qua để xuống Củ Chi và sang Hậu Nghĩa, trong tình hình địch hoang mang, giao động cao độ, Huyện ủy hạ quyết tâm dồn hết lực lượng tấn công đồng loạt, đều khắp địa bàn huyện. Ngày 27/4 lực lượng địa phương chiếm Gia Huỳnh. Ngày 28/4 tiểu đoàn 1 cánh Đông của huyện dùng 2 đại đội đánh vào chi khu Trảng Bàng và 1 đại đội kết hợp với du kích ở Gia Lộc, Lộc Hưng bao vây và bức hàng đồn Rừng Cầy, Láng Liêm, Chùa Đá, Hốc Nai, Gia Tân, Bàu Hai Năm, Cầu Ván, Đồng Ớt, và Chùa Mọi. Ngày 29/4. Du kích An Tịnh bao vây các đồn Suối Sâu, Biện Sen, Bàu Tràm, Cây Dương, An Thới, buộc địch phải đầu hàng và nộp vũ khí. Đúng 16 giờ chiều ngày 29/4 Trảng Bàng, cửa ngõ phía bắc Sài Gòn được giải phóng làm cho liên đoàn 33 biệt động của địch từ Gò Dầu chạy về Sài Gòn đến Trảng Bàng phải đốt xe, vứt bỏ vũ khí. Trảng Bàng là huyện thứ 2 của Tây Ninh được giải phóng.

Tại huyện Dương Minh Châu, lực lượng vũ trang của huyện cùng với nhân dân bức hàng đồn Bàu Năng, Bàu Cóp, Chà Là trên tỉnh lộ 26, lính ở các đồn này đầu hàng và được gom về tập trung tại trường học Ninh Hưng. Sau đó bọn lính được thả về, chờ ngày ra trình diện. Đến 19 giờ, huyện Dương Minh Châu cơ bản được giải phóng.

Ở huyện Châu Thành, ngày 29/4/1975, hai tiểu đoàn bộ đội địa phương tiến vào khu tam giác Thanh Điền, Cao Xá, Thái Bình hình thành thế bao vây thị xã. Trong khi đó, một bộ phận quan chủ lực áp sát phía nam và một bộ phận công an vũ trang lọt vào trung tâm thị xã. Lúc 9 giờ 30 ngày 30/4/1975, qua máy bộ đàm, đại diện Ban chỉ huy chiến dịch giải phóng Tây Ninh đã gọi điện cho Tỉnh trưởng Bùi Đức Tài  buộc ra lệnh cho binh lính buông súng đầu hàng. Cùng lúc pháo binh ta từ Núi Bà liên tục bắn vào Tiểu khu tòa hành chính ngụy. Trước tình hình đó trung đoàn 49, sư đoàn 25, biệt kích dù 81, biệt động quân 33 và phần lớn Thiết kỵ binh 3 tan rã và đầu hàng. 10 giờ 30 ngày 30/4/1975 tỉnh trưởng Bùi Đức Tài tuyên bố đầu hàng và ra lệnh cho các địa phương trong tỉnh hạ vũ khí, đầu hàng quân Cách mạng. Đúng 11 giờ ngày 30/4/1975 thị xã Tây Ninh được hoàn toàn giải phóng trước khi tổng thống ngụy quyền Sài Gòn Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện 30 phút.

Trong lúc lực lượng vũ trang tiến công giải phóng Thị xã, công nhân, nhân viên các nhà máy điện, nhà máy nước, bệnh viện, bưu điện…đã bảo vệ tại chỗ toàn bộ máy móc, tài sản nên khi thị xã được giải phóng các cơ sở phục vụ sinh hoạt công cộng hoạt động bình thường. Đó cũng là thắng lợi lớn của chiến dịch, là kết quả tốt đẹp giữa sự kết hợp tiến công vũ trang và nổi dậy của quần chúng tại chỗ.

Đến ngày 5/5/1975, ở Tây Ninh cơ bản đã kết thúc trình diện, theo danh sách đăng kí. Tổng số có 30.503 tên, trong đó có 23.078 ngụy quân, 640 viên chức ngụy quyền. 1.543 cảnh sát, 111 đảng viên Đảng Dân chủ của Thiệu. Chiến lợi phẩm thu được gồm: 79.959 súng các loại, 30 khẩu pháo 105 li, 7 khẩu pháo 105 li, 197 xe quân sự, 18 xe thiết giáp, 630 máy truyền tin, 3 tổng đài siêu tần số, 21 máy phát điện, 181 tấn đạn. Tài chính thu được 19.852.200 đồng tiền mặt, 36.930.000 tiền trưng thu của ngân hàng và 348.426.000 tiền quĩ giá trị bằng phiếu.

Bo doi hanh quan diet dich trong chien dich Tay Nguyen

Bộ đội hành quân diệt địch trong Chiến dịch Tây Nguyên

  1. Ý nghĩa chính trị

Bằng sức mạnh tổng hợp được phát huy cao độ trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, quân và dân Tây Ninh đã tự giải phóng tỉnh nhà, góp phần xứng đáng vào công cuộc giải phóng Sài Gòn-hang ổ cuối cùng của chính quyền địch (Lực lượng vũ trang Tây Ninh đã ngăn chặn không cho sư đoàn 25 chủ lực ngụy tháo chạy về Sài Gòn), hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ trên giao, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài gần 21 năm.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân Tây Ninh diễn ra dưới hình thái là một cuộc chiến tranh nhân dân, là quá trình liên tục, từ đấu tranh chính trị, tiến tới khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng, kết hợp giữa tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công. Tiêu diệt và làm tan rã sinh lực địch, đánh bại từng bước tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn.

Thành quả cách mạng to lớn đó do nhiều nhân tố tạo nên, trong đó quan trong nhất là đường lối chính trị và đường lối quân sự sáng suốt, đúng đắn của Đảng, là lòng yêu nước, ý chí kiên cường bất khuất, tinh thần hi sinh vô bờ bến của quần chúng nhân dân và lòng tin sắt đá vào Đảng, vào sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo.

Thắng lợi của nhân dân Tây Ninh đã góp phần cùng nhân dân cả nước quét sạch quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, lật đổ ngụy quyền Sài Gòn, công cụ của chủ nghĩa thực dân mới Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, đưa đất nước vào kỉ nguyên mới: kỉ nguyên độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh

 Nguồn: Đề cương tuyên truyền kỉ niệm 42 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2017)

2017  Đảng bộ Trường Đại học Hà Tĩnh   Thiết kế:  ITC-HTU