Đồng chí Trần Phú - Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng (01/05/1904 - 01/05/2014)

Đồng chí Trần Phú là người cộng sản mẫu mực, kiên cường, bất khuất, đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân, luôn nêu cao phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, thủy chung, trung thành vô hạn với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của giai cấp và của dân tộc, lạc quan tin tưởng vào tương lai và sự tất thắng của cách mạng… Những phẩm chất tốt đẹp đó, cùng tình yêu thương đồng chí, đồng bào, chí khí kiên cường, bất khuất trước kẻ thù và lời nhắn nhủ cuối cùng của đồng chí Trần Phú: “Hãy giữ vững chí khí chiến đấu” luôn sống mãi với thời gian, sống mãi trong lòng mỗi người dân Việt Nam, trường tồn cùng đất nước.

I. THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG  CỦA ĐỒNG CHÍ TRẦN PHÚ

Đồng chí Trần Phú sinh ngày 01/5/1904, quê ở xã Việt Yên, nay là xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh - một vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng. Thân sinh của đồng chí là cụ Trần Văn Phổ và cụ Hoàng Thị Cát.

Cụ Trần Văn Phổ là một nhà nho nghèo, yêu nước. Sau khi đậu giải Nguyên (đỗ đầu kỳ thi Hương) vào năm 1848, Cụ được cử làm giáo thụ tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1901, Cụ vào dạy học tại Tuy An, tỉnh Phú Yên. Năm 1907, Cụ được bổ nhiệm làm Tri huyện huyện Đức Phổ. Dù dạy học hay làm quan, Cụ luôn là người chính trực, thanh liêm, yêu nước, thương dân. Khi thực dân Pháp tăng cường bóc lột tại Việt Nam, nhân dân đứng lên phản kháng, triều đình Nhà Nguyễn đã thẳng tay đàn áp nhân dân và bắt Cụ phải thi hành mệnh lệnh, nhưng Cụ đã đứng về phía nhân dân. Vì quá uất ức trước sự bạo tàn của thực dân, phong kiến, không chịu sự đe dọa, bức bách của kẻ thù, Cụ đã quyên sinh để phản kháng chế độ hà khắc lúc bấy giờ.

Cụ bà Hoàng Thị Cát - thân mẫu của đồng chí Trần Phú là người hiền hậu, tần tảo chăm lo chồng, con. Sau khi chồng mất, gia đình cụ Hoàng Thị Cát lâm vào cảnh khốn khó, Cụ lâm bệnh nặng, rồi qua đời vào đầu năm 1910, khi đồng chí Trần Phú mới 6 tuổi.

Mẹ mất, đồng chí Trần Phú về Quảng Trị ở với anh, chị ruột. Năm 1914, đồng chí vào Huế học tại Trường Tiểu học Pháp - Việt Đông Ba, tiếp đó học tại Trường Quốc học Huế.

Năm 1922, sau thi đỗ đầu kỳ thi Thành Chung do Trường Quốc học Huế tổ chức, đồng chí Trần Phú được bổ nhiệm dạy học tại Trường Tiểu học Cao Xuân Dục, Thành phố Vinh. Trong quá trình dạy học, đồng chí có dịp gần gũi với công nhân và nông dân, nhiệt tình truyền đạt kiến thức văn hoá, giác ngộ tinh thần yêu nước, ý chí cách mạng cho những người lao động.

Năm 1925, Đồng chí Trần Phú tham gia sáng lập và hoạt động tích cực trong tổ chức Hội Phục Việt. Khi bị bọn mật thám phát hiện, những người lãnh đạo Hội quyết định đổi tên thành Hội Hưng Nam, sau đó lại đổi tên thành Việt Nam Cách mạng Đảng, rồi Tân Việt Cách mạng Đảng. Trong những ngày sôi động đó, đồng chí Trần Phú thôi nghề dạy học, tập trung cho hoạt động cách mạng.

Tháng 9/1925, đồng chí Trần Phú được Hội Phục Việt cử sang Lào để vận động cách mạng. Thời gian hoạt động ở Lào, đồng chí đã đi sâu tìm hiểu đời sống và nguyện vọng của công nhân, nông dân, giác ngộ cách mạng cho họ và bước đầu tự rèn luyện lập trường, ý thức giai cấp công nhân cho mình.

Tháng 6/1925, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên. Được tin, Ban lãnh đạo Hội Hưng Nam cử đồng chí Trần Phú sang gặp các đồng chí trong tổ chức này để đề nghị hợp nhất hai tổ chức. Trong thời gian này, đồng chí Trần Phú được lãnh tụ  Nguyễn Ái Quốc đặt tên là Lý Quý, được huấn luyện về lý luận chính trị và kết nạp vào Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, vào Cộng sản Đoàn và được cử về nước hoạt động.

Tháng 12/1926, đồng chí Trần Phú về đến thành phố Vinh. Sau khi báo cáo việc Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên dự định hợp nhất các tổ chức cách mạng trong và ngoài nước, đồng chí truyền đạt lại những lời dạy của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, giúp các đồng chí trong nước cải tổ Hội Việt Nam cách mạng đồng chí theo đường lối và tổ chức của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên. Ở trong nước một thời gian, trước sự truy nã gắt gao của kẻ thù, đồng chí lại được cử sang Quảng Châu làm việc tại cơ quan Tổng bộ Thanh niên.

Mùa xuân năm 1927, trước yêu cầu cấp thiết của việc đào tạo cán bộ cách mạng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cử đồng chí Trần Phú sang học tại Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản ở Mát-xcơ-va. Lúc ấy, đồng chí mang tên là Li-ki-vơ. Ở trường này, theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc - đại diện Quốc tế Cộng sản, một nhóm cộng sản Việt Nam được thành lập, đồng chí Trần Phú được chỉ định làm Bí thư của nhóm. Dù vào học muộn một năm, sức khỏe yếu, nhưng với trí thông minh, ham học hỏi cùng với nghị lực mạnh mẽ, đồng chí Trần Phú đã nỗ lực phấn đấu không chỉ theo kịp các đồng chí khác, mà còn giúp đỡ cho một số anh em cùng khóa vươn lên học tập. Ngày 11/10/1929, Triều Nguyễn theo lệnh đế quốc Pháp kết án tử hình vắng mặt đồng chí Trần Phú.

Đầu năm 1930, sau khi học xong ở Trường Đại học Phương Đông, đồng chí Trần Phú đã xin tổ chức cho về nước hoạt động.

Tháng 4/1930, đồng chí Trần Phú về đến Hà Nội và đến tháng 7/1930 được cử vào Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí Trần Phú đã khẩn trương tổ chức trao đổi với các đồng chí lãnh đạo Đảng trên các lĩnh vực, các vùng và nghiên cứu, khảo sát thực tế tình hình phong trào công nhân Nam Định, Hải Phòng, khu mỏ Hòn Gai, Thái Bình... Trong căn buồng xép của tầng hầm chật chội ở ngôi nhà số 90 - Thợ Nhuộm - Hà Nội, bản Luận cương chính trị của Đảng đã được đồng chí Trần Phú khởi thảo. Luận cương chính trị đã được Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 10/1930) thảo luận và nhất trí tán thành. Cũng tại Hội nghị này, Trần Phú chính thức được bầu làm Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng, khi đó đồng chí mới 26 tuổi.

Sau Hội nghị lần thứ nhất (tháng 10/1930) của Trung ương Đảng, Ban Thường vụ Trung ương quyết định đóng trụ sở tại Sài Gòn để thuận lợi cho việc lãnh đạo phong trào cách mạng cũng như việc liên lạc với Hương Cảng (Trung Quốc) và Mác-xây (Pháp). Tại Sài Gòn, đồng chí Trần Phú được một đảng viên làm bồi bếp cho tên đốc học người Pháp bố trí ở ngay trong nhà để đảm bảo giữ bí mật.

Tháng 3/1931, đồng chí Trần Phú chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai. Hội nghị đã nhận định tình hình cách mạng và đề ra những chủ trương, biện pháp mới nhằm đẩy mạnh phong trào, củng cố tổ chức Đảng. Sau Hội nghị, bọn mật thám ra sức lùng sục, đánh phá hàng loạt cơ sở Đảng. Ngày 18/4/1931, đồng chí Trần Phú bị địch bắt tại Sài Gòn và bị tra tấn rất dã man, nhưng chúng đã không khuất phục được ý chí của người cộng sản kiên trung. Đồng chí tuyên bố dứt khoát “Đừng hỏi làm gì nữa vô ích. Ta không thể đem công việc của Đảng ta nói cho các ngươi nghe”. Cuối cùng kẻ thù đã bất lực trước tinh thần gang thép ấy và đưa đồng chí ra Toà án Sài Gòn để xét xử. Tại đây, đồng chí Trần Phú đã thể hiện lòng dũng cảm, trí thông minh, bản lĩnh kiên cường, biến tòa án của kẻ thù thành nơi lên án chủ nghĩa đế quốc Pháp và nêu cao uy tín của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Trong những ngày bị giam cầm, tra tấn, đồng chí Trần Phú luôn nêu cao tấm gương đấu tranh cách mạng. Hàng ngày, đồng chí vẫn tham gia bồi dưỡng lý luận chính trị và kinh nghiệm công tác cho các đồng chí tù chính trị, căn dặn anh em, đồng chí luôn giữ vững tinh thần, đặt niềm tin sắt son vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp cách mạng. Tuy sức khỏe yếu, nhưng Trần Phú vẫn tích cực cùng anh em, đồng chí tham gia đấu tranh chống lại chế độ tù đày hà khắc của thực dân. Tháng 8/1931, bệnh của Trần Phú nặng hơn, bọn mật thám phải đưa đồng chí về Nhà thương Chợ Quán. Sức khỏe của đồng chí ngày càng yếu đi, ngày 06/9/1931, đồng chí Trần Phú đã trút hơi thở cuối cùng tại Nhà thương Chợ Quán (Sài Gòn) khi mới 27 tuổi - độ tuổi đang tràn đầy tài năng sáng tạo, cống hiến cho cách mạng. Trước khi hy sinh, đồng chí Trần Phú đã nhắn nhủ các đồng chí của mình: Hãy giữ vững chí khí chiến đấu!

Sau gần 68 năm kể từ ngày đồng chí Trần Phú hy sinh, phần mộ của đồng chí được tìm thấy tại Nghĩa trang Chợ Quán, Sài Gòn, nay là Công viên Văn hóa Lê Thị Riêng, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Vào lúc 09 giờ, ngày 12/01/1999, tại Hội trường Thống nhất Thành phố Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước đã tổ chức trọng thể lễ truy điệu, sau đó di dời hài cốt đồng chí về an táng tại đồi Hội Sơn, Cồn Nổi (Quần Nội) trước bến Tam Soa thuộc xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.

II. NHỮNG CỐNG HIẾN TO LỚN CỦA ĐỒNG CHÍ TRẦN PHÚ ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM

1. Đồng chí Trần Phú là người dự thảo bản Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, góp phần quan trọng hình thành đường lối cách mạng Việt Nam

Luận cương chính trị do đồng chí Trần Phú dự thảo đã phân tích một cách khoa học tình hình thế giới, đặc điểm, tình hình cách mạng ở Đông Dương, từ đó khẳng định con đường phát triển của cách mạng Việt Nam và cách mạng Đông Dương là tiến hành cách mạng tư sản dân quyền, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Luận cương xác định nhiệm vụ của cách mạng là đánh đổ thực dân, phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc, sau đó “bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”. Giữa cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa quan hệ mật thiết với nhau, vì có đánh đổ chủ nghĩa đế quốc tại Việt Nam và Đông Dương mới phá được ách thống trị của địa chủ phong kiến, giành thắng lợi trong cách mạng thổ địa. Ngược lại, có phá tan được chế độ phong kiến mới đánh đổ được chủ nghĩa đế quốc.

Theo đồng chí Trần Phú, lực lượng cách mạng chính là giai cấp công nhân, nông dân và phải được đặt dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân mới thành công. Để giành được quyền lãnh đạo nông dân thì giai cấp công nhân phải lãnh đạo nông dân tiến hành cách mạng ruộng đất triệt để, bởi vì vấn đề ruộng đất là nội dung cốt yếu của cách mạng tư sản dân quyền.

Về Đảng, Luận cương nêu rõ điều kiện cốt yếu cho thắng lợi của cách mạng là phải có một Đảng Cộng sản với đường lối, chủ trương đúng, có kỷ luật, liên hệ mật thiết với quần chúng và trải qua đấu tranh cách mạng mà trưởng thành. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và lãnh đạo giai cấp vô sản đấu tranh để đạt mục đích cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Để đảm bảo sự lãnh đạo, Đảng phải tổ chức ra các đoàn thể quần chúng của công nhân, nông dân… chống lại chủ nghĩa cải lương.

Về phương pháp cách mạng, Luận cương chỉ rõ phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ lâu dài. Khi thời cơ cách mạng đến Đảng phải lãnh đạo quần chúng dùng bạo lực cách mạng để giành chính quyền.

Về quan hệ quốc tế, Luận cương khẳng định cách mạng Đông Dương và cách mạng thế giới có liên hệ chặt chẽ với nhau, giai cấp vô sản Đông Dương phải có quan hệ mật thiết với giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.

Như vậy, về mặt lý luận, Luận cương chính trị do đồng chí Trần Phú soạn thảo đã trình bày một cách logic và cụ thể các vấn đề về tính chất, con đường, nhiệm vụ, tổ chức lực lượng của cách mạng Đông Dương. Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá:“Trong bản Cương lĩnh cách mạng tư sản dân quyền năm 1930, Đảng đã nêu nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc, người cày có ruộng. Cương lĩnh ấy phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta là nông dân. Vì vậy, Đảng đã đoàn kết được những lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình. Còn các đảng phái khác của các giai cấp khác thì hoặc bị phá sản, hoặc bị cô lập. Do đó, quyền lãnh đạo của Đảng ta - Đảng của giai cấp công nhân - không ngừng củng cố và tăng cường”. 

2. Đồng chí Trần Phú với công tác xây dựng Đảng

Cùng với lý luận về con đường cách mạng Việt Nam, đồng chí Trần Phú đã có những đóng góp to lớn về công tác xây dựng Đảng trên cả 3 mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Đồng chí đã tranh thủ mọi điều kiện để trang bị lý luận Mác - Lênin cho cán bộ, đảng viên, kiên quyết đấu tranh khắc phục những biểu hiện ấu trĩ tả khuynh, hữu khuynh trong Đảng. Để đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục của Đảng, cuối tháng 12/1930, tại Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương, đồng chí Trần Phú và Thường vụ Trung ương đã quyết định xuất bản báo Cờ vô sản và Tạp chí Cộng sản với mục đích làm rõ chính sách của Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Đông Dương, triển khai tự phê bình và phê bình những sai trái, yếu kém trong công tác Đảng. Đồng chí Trần Phú đã chủ trương khôi phục lại các ban chấp hành xứ ủy, tỉnh ủy; thiết lập mối liên lạc giữa Trung ương và các cấp ủy đảng địa phương; lập ra Ban Tuyên truyền do một đồng chí Ủy viên Thường vụ Trung ương phụ trách.

Đồng chí Trần Phú cùng Thường vụ Trung ương đã sớm nhận rõ: Một điều nguy hại căn bản là trong Đảng chưa nhận thức rõ địa vị của giai cấp trong cách mạng và chức trách của Đảng. Biểu hiện rõ nhất là trong Đảng số chi bộ và đảng viên công nhân còn ít, chưa thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, còn “giữ cái chế độ rời rạc chỉ huy, địa phương tự trị, cá nhân bao biện và độc đoán… kỷ luật Đảng thì nhiều nơi hết sức là lơi lỏng để cho tư tưởng hành động trong Đảng mỗi người một khác, trái lại có nơi thì thi hành kỷ luật nghiêm khắc một cách vô lý chỉ dùng mệnh lệnh và dọa nạt chứ không giải thích gì hết”. Đồng chí Trần Phú cho rằng những yếu kém đó đều xuất phát từ nhận thức chưa đúng về Đảng và những điều xuất phát từ “đặc tính tiểu tư sản” trong Đảng. Cùng với nhiệm vụ xây dựng năng lực lãnh đạo, Đảng phải đấu tranh chống những biểu hiện tiểu tư sản về tư tưởng, tổ chức và trong hoạt động, tức là chống lại chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa ba phải trong Đảng. Trước tình hình đó, đồng chí Trần Phú xác định nhiệm vụ cần kíp là “Đảng phải thực hành cho được những nhiệm vụ về tổ chức” mà trước hết là phải tăng cường tính chất giai cấp công nhân của Đảng, nhất là trong đội ngũ lãnh đạo. Mặt khác, hoạt động của Đảng phải tập trung vào chi bộ, làm cho chi bộ phát triển, chủ động trong sinh hoạt chính trị của Đảng và lãnh đạo quần chúng đấu tranh. Qua thực tiễn đấu tranh, số lượng đảng viên tăng nhanh, những ngày đầu mới thành lập (03/02/1930) cả nước có hơn 300 đảng viên thì đầu năm 1931 lên tới 2.400 đảng viên. Nhiều quần chúng yêu nước được giác ngộ qua đấu tranh thời kỳ cao trào cách mạng 1930 - 1931 đã được kết nạp vào Đảng; ảnh hưởng và uy tín của Đảng trong phong trào quần chúng không ngừng được nâng cao. Đây là cơ sở quan trọng để ngày 11/4/1931, tại phiên họp thứ 25 Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản lần thứ XI đã quyết định: “Đảng Cộng sản Đông Dương trước đây là một chi bộ của Đảng Cộng sản Pháp, từ nay được công nhận là một chi bộ độc lập thuộc Quốc tế Cộng sản”.

3. Đồng chí Trần Phú với việc xây dựng các tổ chức cách mạng quần chúng

Về lý luận tổ chức lực lượng, đồng chí Trần Phú chỉ ra rằng: Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải xây dựng xung quanh mình các tổ chức để tập hợp quần chúng nhân dân. Khẳng định giai cấp vô sản lãnh đạo cuộc cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương mà không tổ chức được toàn dân thành một lực lượng thống nhất chống đế quốc và phong kiến dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản thì cách mạng khó thành công. Đây là một bước tiến trong nhận thức của Đảng về việc đánh giá vai trò của Mặt trận thống nhất dân tộc trong cách mạng nước ta.

Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 10/1930 do đồng chí Trần Phú chủ trì đã thảo luận, thông qua hàng loạt văn kiện quan trọng liên quan trực tiếp đến công tác dân vận và việc thành lập Mặt trận, trong đó có Án nghị quyết về vấn đề phản đế và Điều lệ Đồng minh phản đế ở Đông Dương. Trên cơ sở đó, ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị thành lập Hội Phản đế Đồng minh.

Nhận thức rõ ý nghĩa của phong trào công nhân và việc xây dựng tổ chức Công hội, Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (10/1930) đã ra Nghị quyết về vận động công nhân và Điều lệ Tổng Công hội. Sau khi về Sài Gòn, ngày 20/01/1931, đồng chí Trần Phú đã chủ trì Hội nghị công nhân Đông Dương lần thứ nhất bàn về công tác vận động công nhân. Hội nghị quyết định thành lập Ban Công vận Trung ương do đồng chí Trần Phú trực tiếp làm Trưởng ban.

Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai do đồng chí Trần Phú chủ trì đã chủ trương thống nhất các tổ chức thanh niên vào Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương (ngày nay là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh). Việc “Tổ chức ra cộng sản thanh niên Đoàn là một nhiệm vụ thâu phục một bộ phận quan trọng của vô sản giai cấp, là một vấn đề cần kíp của Đảng phải giải quyết”. Sau này, Trung ương Đảng đã lấy ngày mở đầu Hội nghị - ngày 26/3/1931 làm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

Cùng với việc ra các nghị quyết về tổ chức quần chúng cách mạng nói trên, trong khoảng từ tháng 10/1930 đến tháng 3/1931, nhiều nghị quyết và văn kiện về xây dựng các tổ chức quần chúng cách mạng như: Nông hội, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cứu tế đỏ…đã được Trần Phú và Ban Chấp hành Trung ương soạn thảo, thông qua.

Từ lúc về nước hoạt động và sau đó đảm đương cương vị Tổng Bí thư tuy thời gian không lâu, nhưng đồng chí Trần Phú đã giải quyết một khối lượng công việc to lớn. Những văn kiện do đồng chí Trần Phú dự thảo hoặc chỉ đạo dự thảo, những tổ chức do đồng chí Trần Phú chủ trương lập ra đã đáp ứng được đòi hỏi của phong trào, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng công tác Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng trong những năm đầu Đảng mới thành lập.

4. Đồng chí Trần Phú là người con ưu tú của Đảng, của nhân dân, là tấm gương sáng mẫu mực về chí khí chiến đấu của người Cộng sản

Xuất thân trong một gia đình nhà Nho yêu nước, trước sự áp bức, bóc lột của thực dân phong kiến, chứng kiến cảnh nước mất, nhà tan, sự nổi dậy đấu tranh chống áp bức, bóc lột của các tầng lớp nhân dân, Trần Phú đã sớm chọn con đường chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đồng chí Trần Phú là một tấm gương mẫu mực cho tinh thần ham học hỏi, ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, đồng chí đã tìm đọc các loại sách báo tiến bộ, tự học tiếng Anh để trau dồi kiến thức. Khi đang là thầy giáo, bằng nhiệt huyết của mình, đồng chí Trần Phú đã truyền cho các lớp học sinh tinh thần yêu nước và vận động học tập, quần chúng tham gia đấu tranh cho độc lập dân tộc, cho một xã hội tốt đẹp, không còn bị áp bức, bất công… Sau khi được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, được bồi dưỡng lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin và được kết nạp vào Cộng sản Đoàn, từ chủ nghĩa yêu nước, đồng chí Trần Phú đã đến với lý tưởng cộng sản và quyết tâm dâng hiến đời mình cho lý tưởng cao đẹp đó.

Đồng chí Trần Phú đã nêu cao tấm gương sáng ngời về lòng trung thành tuyệt đối với Đảng và cách mạng, về tinh thần bất khuất, chiến đấu kiên cường trước kẻ thù. Gần 5 tháng bị giam cầm, mặc dù kẻ địch dùng đủ mọi cực hình tra tấn, song chúng không thể khuất phục được ý chí cách mạng của đồng chí. Từ trong ngục tù của đế quốc, đồng chí Trần Phú và các chiến sỹ cách mạng vẫn tìm cách liên lạc với bên ngoài, đồng thời kiên cường đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù. Lời căn dặn “Hãy giữ vững chí khí chiến đấu” của đồng chí trước lúc đi xa, đã trở thành vũ khí tư tưởng sắc bén cho mỗi một người chiến sỹ cách mạng, cổ vũ lớp lớp thế hệ giữ vững lập trường, kiên định con đường cách mạng mà Đảng và nhân dân đã lựa chọn.

Tinh thần cách mạng, chí khí chiến đấu và sự hy sinh anh dũng của đồng chí Trần Phú là tấm gương mẫu mực cho người cộng sản Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Đồng chí đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Đảng ta, của nhân dân ta.

Tổng Bí thư Trần Phú mất đi là một tổn thất to lớn đối với Đảng và phong trào cách mạng của nhân dân ta, đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Trong bài tưởng nhớ đồng chí Trần Phú năm 1932 lưu trữ tại Hồ sơ Quốc tế Cộng sản đã khẳng định: “Sự nghiệp cách mạng, niềm tin và phẩm chất cao đẹp của Tổng Bí thư Trần Phú trong nhà tù đế quốc sẽ mãi mãi là tấm gương bất diệt cho những người cộng sản trên thế giới, đặc biệt là những người Cộng sản Đông Dương”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần đã nêu cao tấm gương hy sinh oanh liệt của đồng chí Trần Phú cùng với nhiều nhà cách mạng khác “đã đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc lên trên hết, lên trước hết. Các đồng chí đó đã tin tưởng sâu sắc, chắc chắn vào lực lượng vĩ đại và tương lai vẻ vang của giai cấp, của dân tộc. Các đồng chí ấy đã vui vẻ hy sinh hết thảy, hy sinh cả tính mệnh mình cho Đảng, cho giai cấp, cho dân tộc. Các đồng chí ấy đã đem xương máu mình vun tưới cho cây cách mạng, cho nên cây cách mạng đã khai hoa, kết quả tốt đẹp như ngày nay”.

III. ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN HÀ TĨNH PHẤN ĐẤU XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG NGÀY CÀNG VĂN MINH, GIÀU MẠNH XỨNG ĐÁNG VỚI CÔNG LAO TO LỚN CỦA ĐỒNG CHÍ TRẦN PHÚ

Hà Tĩnh là vùng quê giàu truyền thống văn hoá và cách mạng. Trong suốt chiều dài lịch sử, các thế hệ người Hà Tĩnh đã hun đúc nên truyền thống lao động cần cù, ý chí kiên cường, bất khuất, tinh thần đoàn kết gắn bó, tương thân, tương ái, sống nghĩa tình, thuỷ chung. Mảnh đất này đã sản sinh cho Đảng, cho dân tộc nhiều người con ưu tú. Đặc biệt, Hà Tĩnh rất vinh dự và tự hào là quê hương của đồng chí Trần Phú và đồng chí Hà Huy Tập - hai Tổng Bí thư của Đảng.

Cuộc đời và quá trình hoạt động cách mạng của đồng chí Trần Phú ở quê hương Hà Tĩnh tuy không nhiều, nhưng những công lao, cống hiến của đồng chí với Đảng, với dân tộc cũng chính là công lao, cống hiến cho quê hương. Tấm gương chiến đấu, hy sinh của đồng chí Trần Phú luôn là sự cổ vũ, khích lệ, niềm tự hào của quê hương Hà Tĩnh.

Xứng đáng là quê hương cách mạng của đồng chí Trần Phú - Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng, Đảng bộ Hà Tĩnh là một trong những Đảng bộ ra đời sớm nhất trong toàn quốc và đi tiên phong trong Cao trào cách mạng 1930 - 1931. Mặc dù bị kẻ thù tập trung khủng bố khốc liệt nhưng cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng vẫn kiên trì vượt qua thử thách, từng bước khôi phục lại để cùng cả nước dấy lên phong trào vận động dân chủ những năm 1936-1939. Trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, Hà Tĩnh là một trong bốn tỉnh giành chính quyền về tay nhân dân sớm nhất cả nước. Sau Cách mạng Tháng Tám, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ, quân và dân Hà Tĩnh đã xây dựng và bảo vệ vững chắc quê hương, dốc sức chi viện cho mặt trận, góp phần cùng cả nước đánh bại thực dân Pháp xâm lược.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hà Tĩnh đảm nhiệm vị trí chiến lược vừa là hậu phương của tiền tuyến miền Nam, vừa là tiền tuyến của hậu phương miền Bắc, nên phải đương đầu với những thử thách ác liệt và nhiều hy sinh tổn thất. Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh nêu cao ý chí tự lực, tự cường vươn lên mạnh mẽ, giành nhiều chiến công hiển hách. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, chỉ tính từ năm 1960 đến 1975, toàn tỉnh đã có 92.913 thanh niên lên đường nhập ngũ (chiếm 10% dân số lúc đó), 334.128 lượt người đi dân công hoả tuyến, 10.636 thanh niên xung phong; 13.024 người con của Hà Tĩnh đã anh dũng hy sinh trên chiến trường. Ghi nhận những thành tích xuất sắc trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, 100% đơn vị huyện, thị của Hà Tĩnh lúc bấy giờ đều được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, 549 bà mẹ được Nhà nước phong tặng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

Bước vào thời kỳ hòa bình xây dựng quê hương, đất nước, đặc biệt là từ sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII (2010 - 2015) đến nay, Hà Tĩnh tiếp tục phát huy truyền thống và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng Hà Tĩnh sớm thoát khỏi tình trạng tỉnh nghèo, trở thành tỉnh có công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ phát triển. Được sự giúp đỡ của Trung ương, sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của cấp ủy, chính quyền các cấp và sự nỗ lực của toàn Đảng bộ và nhân dân, kinh tế Hà Tĩnh liên tục tăng trưởng ở mức cao, đời sống nhân dân được cải thiện, văn hoá - xã hội có nhiều khởi sắc; an ninh - quốc phòng được giữ vững; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được tăng cường…

Một trong những thành công có ý nghĩa nền tảng là trong thời gian qua Hà Tĩnh đã hoàn thành và công bố Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050. Trên cơ sở đó, thực hiện việc chuyển đổi căn bản về quy hoạch vùng, ngành và cơ cấu kinh tế hợp lý. Hà Tĩnh là địa phương triển khai đồng loạt nhiều dự án phát triển kinh tế - xã hội mang tầm quốc gia như: Khu Kinh tế Vũng Áng, Khu Kinh tế cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo, Dự án thuỷ lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang, dự án khai thác Mỏ sắt Thạch Khê, các dự án mở rộng, nâng cấp Quốc lộ 1A, 15A, 8A... Thời gian qua, Hà Tĩnh là một trong những địa phương thực hiện tốt công tác tái định cư, giải phóng mặt bằng phục vụ các dự án phát triển kinh tế - xã hội lớn nhất cả nước. 
    Song song với công tác quy hoạch phát triển, tỉnh đã đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Với sự phát triển của Khu kinh tế Vũng Áng, Hà Tĩnh đã trở thành địa phương thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất cả nước nhiều năm liền. Khu kinh tế Vũng Áng trở thành 1 trong 5 khu kinh tế trọng điểm của quốc gia, hiện có 130 dự án đang triển khai với số vốn đầu tư là 17 tỷ USD, trong đó dự án Khu liên hợp gang thép và Cảng Sơn Dương của Tập đoàn Formosa là dự án FDI có vốn đầu tư lớn nhất cả nước (giai đoạn I hơn 10 tỷ USD) đang được triển khai theo đúng kế hoạch, một số hạng mục chính đã hoàn thành đưa vào sử dụng. Khu Kinh tế Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo được lựa chọn là 1 trong 8 khu kinh tế cửa khẩu được Chính phủ tập trung đầu tư phát triển giai đoạn 2013 - 2015.

Năm 2013, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động và thúc đẩy mạnh mẽ để phát triển thương mại - dịch vụ trên địa bàn. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực, lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và thương mại, dịch vụ từ 57,5% (năm 2005) lên 81,71% (năm 2013); tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 42% (năm 2005) xuống còn 18,29% (năm 2013) trong cơ cấu GDP của tỉnh.

Trên cơ sở lựa chọn đúng hướng đi, thực hiện quy hoạch phát triển đồng bộ, cơ cấu hợp lý, kinh tế Hà Tĩnh đã có những bước phát triển vượt bậc. Giai đoạn 2006 - 2010, GDP của Hà Tĩnh tăng bình quân hàng năm là 9,6%; Giai đoạn 2011 - 2013, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 14,8%, riêng năm 2013 đạt 19,2%, trở thành địa phương có tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước. Năm 2005, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 445 tỷ đồng, đến năm 2013 đạt 5.500 tỷ đồng; nâng thu nhập bình quân đầu người từ 4,6 triệu đồng (năm 2005) lên gần 30 triệu đồng. Tổng thu ngân sách trên địa bàn giai đoạn 2011 - 2013 đạt 12,5 nghìn tỷ đồng, tăng 2,4 lần so với giai đoạn 2006 - 2010.

Phong trào xây dựng nông thôn mới thu được nhiều kết quả tích cực. Với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, bộ mặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã thay đổi căn bản. Kết thúc năm 2013, toàn tỉnh có 7 xã đạt 100% tiêu chí về nông thôn mới. Từ một địa phương nông nghiệp lạc hậu, Hà Tĩnh trở thành điểm sáng về xây dựng nông thôn mới, được nhiều tỉnh bạn đến tham quan học tập. Trong 3 năm (2011 - 1013), toàn tỉnh đã xây dựng được 1.599 mô hình sản xuất kinh doanh có doanh thu từ 100 triệu đồng trở lên, trong đó có nhiều mô hình đạt doanh thu hàng chục tỷ đồng/năm.

Hoạt động đối ngoại và xúc tiến đầu tư tiếp tục được đẩy mạnh, đặc biệt là đối với các quốc gia và vùng lãnh thổ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan...  

Lĩnh vực văn hoá - xã hội có nhiều khởi sắc. Các giá trị văn hóa truyền thống của Hà Tĩnh tiếp tục được gìn giữ, phát huy, làm cơ sở vững chắc cho phát triển kinh tế - xã hội. Công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được chú trọng. Đến nay, tỉnh đã có 2 di sản văn hóa phi vật thể thế giới và quốc gia; 1 di tích quốc gia đặc biệt, 73 di tích quốc gia; Vừa qua Tổ chức Văn hóa thế giới UNESCO đã vinh danh Đại thi hào Nguyễn Du là Danh nhân văn hóa thế giới; Tỉnh ta cũng đã hoàn thành việc lập hồ sơ khoa học trình UNESCO công nhận Dân ca Ví Giặm Nghệ Tĩnh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Trong nhiều năm liền Hà Tĩnh là một trong những tỉnh đứng đầu cả nước về chất lượng giáo dục. Năm 2013, Hà Tĩnh có 1 học sinh đạt Huy chương Vàng, 1 học sinh đạt Huy chương Bạc Olimpic Toán quốc tế. Tỉnh đã thực hiện hiệu quả Đề án quy hoạch hệ thống trường mầm non và phổ thông trên địa bàn; chuyển đổi các trường mầm non bán công sang loại hình công lập đúng lộ trình; hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; duy trì và củng cố vững chắc kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và THCS, phổ cập đúng độ tuổi ở bậc THCS, xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia theo tiêu chí nông thôn mới. Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được nâng lên. An sinh xã hội được bảo đảm, đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt. Công tác xoá đói, giảm nghèo được triển khai tích cực, tỷ lệ hộ nghèo từ 23,91% (2010) giảm xuống còn 10,75% (2013).

Hạ tầng mạng viễn thông, công nghệ thông tin phát triển nhanh, mức độ sẵn sàng ứng dụng công nghệ thông tin được xếp thứ 9 toàn quốc. 100% số xã có internet, số thuê bao sử dụng internet đạt 55.200 thuê bao.

Hoạt động báo chí ngày càng bám sát nhiệm vụ chính trị của tỉnh, thông tin, tuyên truyền kịp thời, đúng định hướng, góp phần ổn định tình hình, đảm bảo sự phát triển của tỉnh.

Trong điều kiện thế giới và khu vực có nhiều bất ổn, kinh tế trong nước có những khó khăn, nhưng tình hình quốc phòng - an ninh của tỉnh vẫn được giữ vững. Công tác xây dựng Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị được quan tâm chăm lo. Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, các nhiệm vụ chính trị của tỉnh. Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở tiếp tục được hoàn thiện, nâng cao chất lượng hoạt động. Từ năm 2010 đến nay, toàn Đảng bộ kết nạp được 12.502 đảng viên mới, trong đó có 6.648 đảng viên nữ và 60 đảng viên gốc giáo, nâng tổng số đảng viên của Đảng bộ lên 90.328 đảng viên. Năm 2013, có 502/756 tổ chức cơ sở Đảng xếp loại trong sạch vững mạnh (chiếm tỷ lệ 66,4%). Công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng được tăng cường, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Bên cạnh những kết quả đạt được, trên con đường phát triển, Hà Tĩnh vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức: sản xuất nông nghiệp quy mô còn nhỏ; kết quả xây dựng nông thôn mới chưa đồng đều giữa các địa phương; tiến độ triển khai một số dự án còn chậm; lĩnh vực khoa học và công nghệ phát triển chưa tương xứng tiềm năng; nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu; an ninh trật tự, an toàn giao thông còn tiềm ẩn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị tại một số đơn vị chưa ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ...

Để xứng đáng là quê hương đồng chí Trần Phú, Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh đang tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp trên tất cả lĩnh vực. Trước mắt, tập trung vào một số nhiệm vụ cụ thể sau:

Thứ nhất, tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; rà soát, điều chỉnh, bổ sung và xây dựng mới các quy hoạch ngành, địa phương phù hợp. Đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động, phát huy lợi thế, nâng cao hiệu quả đầu tư và chất lượng tăng trưởng, duy trì phát triển kinh tế với tốc độ cao và bền vững. Quan tâm cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp trong và ngoài nước đẩy nhanh tiến độ các dự án đã triển khai và khởi công các dự án đã cam kết, nhất là trong công tác giải phóng mặt bằng, bảo đảm an ninh trật tự, cấp giấy chứng nhận đầu tư... Tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư; mở rộng các hình thức đầu tư BOT, BOO, PPP. 

Thứ hai, tiếp tục thực hiện lộ trình tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần hóa; khuyến khích các doanh nghiệp liên doanh, liên kết để đầu tư phát triển các sản phẩm chủ lực của tỉnh; đồng thời tạo điều kiện để các doanh nghiệp của Hà Tĩnh tìm kiếm cơ hội đầu tư, mở rộng thị trường ra các nước trong khu vực và thế giới. Thực hiện có hiệu quả Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Ưu tiên vốn, khuyến khích chuyển đổi, tích tụ ruộng đất để phát triển sản xuất hàng hóa. Tăng cường công tác quản lý thị trường, đẩy mạnh phát triển thương mại và dịch vụ, phát triển kinh tế đối ngoại...

Thứ ba, nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa - xã hội; đẩy mạnh công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm. Quan tâm chỉ đạo nâng cao chất lượng phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo theo Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) và Nghị quyết 05-NQ/TU của BCH Đảng bộ tỉnh, đáp ứng nguồn nhân lực trước mắt và lâu dài cho sự phát triển của tỉnh. Tiếp tục triển khai có hiệu quả Nghị quyết 03-NQ/TU của BCH Đảng bộ tỉnh, nâng cao trình độ chuyên môn, tăng cường giáo dục y đức cho đội ngũ y, bác sỹ và nhân viên y tế, tạo chuyển biến rõ nét hơn trong công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Thực hiện tốt công tác xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội. Đẩy mạnh phát triển khoa học - công nghệ, quản lý tài nguyên, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Thứ tư, chú trọng công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nắm chắc tình hình hoạt động và âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và các loại tội phạm trên địa bàn; giải quyết kịp thời các vụ việc, khiếu nại, tố cáo của công dân; tích cực đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, tệ nạn xã hội; triển khai mạnh mẽ các giải pháp kiềm chế và giảm thiểu tai nạn giao thông. Tăng cường chỉ đạo nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ tuần tra canh gác, tổ an ninh tự quản, dòng họ, giáo họ tự quản, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên các địa bàn.

Thứ năm, đẩy mạnh cải cách hành chính. Tiếp tục thực hiện Đề án sắp xếp, kiện toàn các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, ban quản lý dự án và tổ chức hội; triển khai thực hiện Đề án đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính quyền các cấp. Xiết chặt kỷ luật, kỷ cương trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang. Quan tâm công tác cải cách tư pháp và các hoạt động thanh tra, kiểm tra; thực hiện nghiêm việc kê khai tài sản và kiểm soát kê khai tài sản; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Thứ sáu, tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các chủ trương, nghị quyết của Trung ương, của tỉnh. Tập trung khắc phục, sửa chữa những khuyết điểm, hạn chế được chỉ ra trong kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI). Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan trong hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, trọng tâm hướng vào các lĩnh vực nhạy cảm, có nhiều bức xúc. Đổi mới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác dân vận theo Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XI). Quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả Quy định của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội…; Quyết tâm xây dựng Đảng bộ Hà Tĩnh đạt danh hiệu Đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu; phấn đấu hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII đề ra vào cuối năm 2014.

Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh đồng chí Trần Phú là dịp để chúng ta ôn lại truyền thống quý báu của Đảng, những đóng góp to lớn của đồng chí Trần Phú đối với cách mạng Việt Nam. Đây là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng bộ, là dịp để Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của tỉnh, quyết tâm đưa Hà Tĩnh trở thành tỉnh có công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ phát triển, xứng đáng là quê hương của đồng chí Trần Phú - Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng.

(Nguồn: Tài liệu tuyên truyền kỷ niệm 110 năm ngày sinh đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng (01/05/1904-01/05/2014) của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Tĩnh)

2017  Đảng bộ Trường Đại học Hà Tĩnh   Thiết kế:  ITC-HTU